Tag: thuốc

Cách làm nước ép bắp cải chữa đau dạ dày

Bạn có thể pha thêm đường, muối, uống nóng hay lạnh tùy khẩu vị. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng kèm theo chế độ dinh dưỡng và lao động thích hợp.

Cách làm nước ép bắp cải chữa đau dạ dày

Cách làm nước ép bắp cải chữa đau dạ dày

Không cần đến những loại thuốc tây đắt tiền, mỗi ngày uống một cốc nước ép bắp cải bệnh viêm loét dạ dày khó chịu sẽ nhanh chóng được chữa khỏi.
Trong bắp cải tươi có một chất chống loét (antipeptic ulcer diatary) còn gọi là vitamin U có khả năng chữa lành khá mau chóng các ổ loét nhân tạo gây được trong bộ máy tiêu hóa của chim, chuột bạch. Do đó, bắp cải được dùng làm thuốc chữa loét, viêm dạ dày và ruột.

Cách làm nước ép bắp cải chữa đau dạ dày:

– Bóc từng lá, không bỏ lá xanh, rửa nhiều lần nước cho sạch.

– Dọc đôi từng lá theo sống lá, chần trong nước sôi, vớt ra để ráo nước.

– Dùng bàn ép, ép lấy nước, bỏ bã.

Thông thường, một kg bắp cải cho từ 500-700 ml nước ép có màu vàng xanh, vị thơm ngọt, hơi hăng hắc. Nếu không có bàn ép, sau khi chần rau, bạn có thể cho vào cối sạch giã nát, sau đó lấy gạc sạch lọc lấy nước, mỗi một kg sẽ cho 350-500 ml.

Nước ép nếu không được bảo quản tủ lạnh sẽ nhanh thiu vì trong bắp cải có hợp chất sunfua. Liều dùng điều trị trong ngày trung bình 1.000 ml chia làm nhiều lần uống, khoảng 200-250 ml, uống thay nước.

Bạn có thể pha thêm đường, muối, uống nóng hay lạnh tùy khẩu vị. Mỗi đợt điều trị là 2 tháng kèm theo chế độ dinh dưỡng và lao động thích hợp. Nhiều trường hợp loét tá tràng 14-20 đã được chữa lành. Tuy nhiên, những ổ loét quá sâu, tác dụng sẽ giảm

Điều trị bằng nước ép bắp cải không có biến chứng và có thể kết hợp với các thuốc chữa dạ dày và tá tràng khác.

Không muốn bệnh càng nặng người bị đau dạ dày tuyệt đối không nên ăn những thực phẩm dưới đây:

Tránh các chất kích thích làm tăng bài tiết dịch vị: kiêng các loại rượu, bia, thuốc lá, cà phê, chè đặc. Kiêng ăn quá nhiều gia vị chua, cay, nóng như giấm, chanh, ớt, tiêu, gừng, riềng; các loại thịt quay, thịt muối, nước luộc thịt, các món sốt, xào có nhiều gia vị.

Tránh các loại thức ăn gây cọ xát làm tổn thương niêm mạc: rau già nhiều xơ (mướp, rau bí đỏ, đậu quả, rau muống, bắp cải, măng khô…). Các thức ăn như: xương băm nhỏ, sụn, tôm cua, cổ cánh, chân gà, vịt, cá nấu, cá rán ăn cả đầu… Nên ăn các thức ăn có tác dụng bọc, hút, thấm niêm mạc như cơm nếp, bánh chưng, bánh mỳ, bánh quy, bánh xốp…

Tránh ăn quá nóng, quá lạnh, tránh quá đói, quá no, tránh ăn quá đặc, quá loãng: vì thức ăn nóng quá làm niêm mạc dạ dày sung huyết, lạnh quá hoặc đói quá (dạ dày rỗng) làm dạ dày co bóp mạnh hơn gây đau, có khi gây chảy máu. Nếu ăn quá no làm dạ dày căng to, co bóp yếu ảnh hưởng đến quá trình nhào trộn thức ăn. Nếu ăn đặc quá thì dịch vị rất khó thấm vào giữa khối thức ăn, nhưng nếu ăn lỏng và nhiều nước quá thì dịch vị sẽ bị pha loãng làm giảm khả năng tiêu hóa.

Theo Đời Sống Khỏe

Một số bài thuốc điều trị huyết áp thấp

Những người huyết áp thấp thường có biểu hiện: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, giảm tập trung trí lực, khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, thoáng ngất hoặc ngất.

Một số bài thuốc điều trị huyết áp thấp

Một số bài thuốc điều trị huyết áp thấp

Theo Tổ chức Y tế thế giới, huyết áp thấp là biểu hiện của sự rối loạn chức năng vỏ não của trung khu thần kinh vận mạch. Bệnh nhân được coi là huyết áp thấp khi trị số huyết áp tâm thu (huyết áp tối đa) dưới 90mmHg (milimét thuỷ ngân) và huyết áp tâm trương (huyết áp tối thiểu) dưới 60mmHg. Có hai loại: huyết áp thấp tiên phát (do thể trạng) và huyết áp thấp thứ phát (do các bệnh lý khác). Những người huyết áp thấp thường có biểu hiện: mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, giảm tập trung trí lực, khi thay đổi tư thế có thể choáng váng, thoáng ngất hoặc ngất.

Theo Đông y, huyết áp thấp thuộc chứng huyễn vựng (huyễn là hoa mắt, vựng là chóng mặt). Nguyên nhân phổ biến của bệnh này là do khí huyết hư làm cho não thiếu sự nuôi dưỡng gây nên chứng hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn, váng đầu, sắc mặt nhợt nhạt, tay chân yếu run, mạch vô lực…

Để điều trị huyết áp thấp phải đưa huyết áp về trị số bình thường sau đó duy trì để tránh tái phát.

Dưới đây là một số bài thuốc dành cho người bị huyết áp thấp:

Bài 1: Hạt sen 30g, táo đỏ 10g, gừng tươi 6 lát. Tất cả sắc với nước uống ngày 2 lần.

Bài 2: Ngũ vị tử 25g, nhục quế 15g, quế chi 15g, cam thảo 15g. Sắc nước uống ngày 2 – 3 lần, uống một đợt từ 3-7 ngày. Khi huyết áp tăng lên bình thường thì uống tiếp một đợt từ 3-6 ngày nữa.

Bài 3: Thục địa 12g, trích cam thảo 6g, bạch truật 12g, đương quy 12g, xuyên khung 8g, phục linh 12g, đẳng sâm 12g, hoàng kỳ 16g, bạch thược 12g. Sắc uống ngày 1 thang.

Bài 4: Nhân sâm tán bột 25 g, tử hà sa (tán bột) 50 g. Trộn với mật ong, mỗi lần uống từ 3 đến 5 g, ngày uống 2 lần vào buổi sáng và trưa.

Bài 5: Đảng sâm 15g, mạch môn 9g, ngũ vị tử 5g, hoàng kỳ 15g, nhục quế 2-4g, trích cam thảo 9g, phù tiểu mạch 30g, táo 5 quả. Sắc uống mỗi ngày một thang, chia làm 2 lần.

Bài 6: Trứng gà tươi 1 quả, gừng tươi 1 nhánh. Rửa sạch gừng thái lát, cho vào nồi, cho thêm 1 cốc nước lã, đun nhỏ lửa đến khi cạn còn 1/3 cốc thì đập trứng gà vào khuấy đều, đun tiếp 2 phút. Sau đó bắc ra ăn nóng, ngày 1 lần, ăn liền trong 5 ngày.

Theo Đời Sống Khỏe

Những bài thuốc chữa kinh kỳ không đều

Do huyết ứ (thực chứng): Sau khi sinh, hoặc sau kỳ kinh nguyệt huyết đọng lại trong tử cung, làm tắc trệ đường kinh, làm cho kinh ra không đúng kỳ.

Những bài thuốc chữa kinh kỳ không đều

Những bài thuốc chữa kinh kỳ không đều

Đèn đỏ là cách nói dân dã về kỳ kinh của người phụ nữ. Theo Nội kinh tố vấn, Thiên thượng cổ thiên chân luận sách Tố vấn chép: “Con gái 7 tuổi thận khí thịnh, răng thay, tóc dài. 14 tuổi (2 x 7) thì có thiên quý, mạch nhâm thông, mạch thái xung thịnh. Kinh nguyệt ra đúng kỳ”.
Đèn đỏ là cách nói dân dã về kỳ kinh của người phụ nữ. Theo Nội kinh tố vấn, Thiên thượng cổ thiên chân luận sách Tố vấn chép: “Con gái 7 tuổi thận khí thịnh, răng thay, tóc dài. 14 tuổi (2 x 7) thì có thiên quý, mạch nhâm thông, mạch thái xung thịnh. Kinh nguyệt ra đúng kỳ”.

Người phụ nữ khỏe mạnh bình thường thì 28 ngày thấy kinh nguyệt một lần. Nhưng cá biệt cũng có người thân thể khỏe mạnh mà 2 tháng có kinh một lần thì gọi là “tinh nguyệt”. 3 tháng hành kinh một lần thì gọi là “cư kinh” hay “án quý”, một năm hành kinh một lần thì gọi là “tỵ viên”, suốt đời không hành kinh thì gọi là “âm kinh” nhưng những trường hợp nói trên là hết sức cá biệt.

Khác với chu kỳ trên như kinh ra trước kỳ, kinh ra sau kỳ, kinh ra trước sau không định kỳ, lượng kinh quá nhiều, quá ít thì gọi là kinh nguyệt không đều hoặc là rối loạn kinh nguyệt.

Nguyên nhân bệnh

Tùy theo nguyên nhân mà có các biểu hiện lâm sàng và phép luận trị cụ thể.

Do huyết nhiệt: Vì ăn nhiều thức ăn cay nóng, hút thuốc, uống rượu, hoặc do khí hậu nóng cảm phải nhiệt tà, nhiệt đọng vào huyết, làm cho huyết đi sai đường dẫn đến kinh nguyệt đến sớm, lượng kinh nhiều.

Do hư nhiệt: Do chân âm bị thương tổn, suy nghĩ và phòng lao làm động hỏa, do thất tình thương tổn bên trong mà hóa hỏa, làm âm huyết kém, hỏa nhiệt mạnh dẫn đến kỳ kinh đến sớm, nhưng lượng kinh lại ít.

Do hư hàn: Do dương khí bẩm sinh vốn kém, hàn tà đọng lâu ngày, dương khí bị hư tổn, khí huyết suy kém, cơ năng không mạnh vận hành kém dẫn đến kinh huyết không đúng kỳ, kinh đến muộn mà lượng ít.

Do khí hư: Do dinh dưỡng không đủ, lao động mệt nhọc dẫn đến chính khí suy kém, mạch xung nhâm kém kiên cố không chế ước được kinh huyết thường kỳ kinh đến sớm mà lượng nhiều.

Do huyết hư: Do một số bệnh làm xuất huyết dai dẳng, hoặc do sinh đẻ quá nhiều lần, hoặc phòng lao, sảy thai, nạo thai nhiều lần làm hao tổn âm huyết, bể huyết trống không dẫn đến kỳ kinh muộn mà ít.

Do tỳ hư: Tỳ vị vốn hư yếu không thu nạp và vận hóa được thủy cốc, làm cho nguồn sinh hóa của khí huyết suy kém huyết dịch không đủ mà kỳ kinh đến muộn. Tỳ chủ huyết nếu tỳ hư mà huyết hãm xuống thì kinh lại đến sớm so với chu kỳ kinh nguyệt.

Do can thận hao tổn: Vì phòng dục không điều độ làm tổn hại mạch xung nhâm làm ảnh hưởng đến can thận. Can hư thì công năng tàng huyết kém, thận hư thì công năng thu nạp kém, do công năng can thận đều kém không điều tiết được nên kỳ kinh muộn mà lượng ít.

Nếu lo nghĩ nhiều làm uất tích, khí của tâm tỳ kết lại làm ảnh hưởng đến xung nhâm, thận âm bị tổn hao, do thận âm hao tổn dẫn đến can khí mất điều hòa nên kỳ kinh rối loạn không nhất định.

Do huyết ứ (thực chứng): Sau khi sinh, hoặc sau kỳ kinh nguyệt huyết đọng lại trong tử cung, làm tắc trệ đường kinh, làm cho kinh ra không đúng kỳ.

Do khí uất: Lo nghĩ nhiều, hay tức giận tình chí không thoải mái, khí uất nghịch lên làm cho huyết kết lại dẫn đến kinh nguyệt không đều khi sớm khi muộn.

Do đờm thấp: Do đờm thấp ứ đọng lại, hoặc do mỡ nhiều ứ đọng lại tử cung làm huyết mạch không thông, kinh huyết trệ lại không hành được, nặng thì gây bế kinh, nếu kèm theo tỳ khí hư nhược không thể cai quản được huyết dịch, hoặc có huyết nhiệt bên trong quá thịnh mà buộc huyết phải tràn ra làm cho kỳ kinh đến sớm, lượng kinh nhiều.

Sau đây là những bài thuốc chữa kinh kỳ không đều tùy theo từng thể bệnh.

Chứng huyết nhiệt

Hương phụ.

Triệu chứng: Thấy kinh trước kỳ, lượng kinh nhiều, màu đỏ sẫm hoặc tím đen, đặc dính, có lúc ra máu cục, có mùi tanh hôi, sắc mặt đỏ hồng, môi đỏ mà khô, tâm phiền hay giận hờn, sợ nóng thích lạnh, đại tiện bí, tiểu tiện đỏ, lưỡi đỏ, rêu vàng, mạch hồng thực hoặc hoạt sác.

Phép trị: Lương huyết, thanh nhiệt.

Bài thuốc: Cầm liên tứ vật thang gia giảm: xuyên quy 16g, sinh địa 12g, xuyên khung 8g, bạch thược 12g, hoàng cầm 12g, hoàng liên 4g. Mỗi ngày 1 thang sắc uống 3 lần trong ngày tùy theo chứng trạng có thể gia một số vị thích hợp.

Nếu trong quá nóng mà kinh ra nhiều thì có thể dùng bài Tiên kỳ thang: sinh địa 16g, đương quy 8g, hoàng bá 8g, tri mẫu 8g, hoàng cầm 8g, hoàng liên 4g, bạch thược 12g, xuyên khung 4g, a giao 12g, ngải diệp (ngải cứu) 4g, hương phụ 12g, chích thảo 3g. Vị a giao khi rót thuốc ra cho vào quấy đều uống. Ngày uống 1 thang. Sắc 3 lần uống 3 lần trong ngày trước khi ăn.

Chứng hư nhiệt

Triệu chứng: Kinh ra trước kỳ, lượng ít màu đỏ trong, không có huyết cục. Sắc mặt kém tươi, có khi hai gò má đỏ, xây xẩm, bên trong nóng phiền nhiệt, ngủ kém, tinh thần mệt mỏi. Chất lưỡi đỏ nhợt, rêu lưỡi vàng khô, miệng lở loét, mạch tế sác.

Phép trị: Dưỡng âm thanh nhiệt.

Bài thuốc: Địa cốt bì ẩm: đương quy 12g, sinh địa 16g, bạch thược 12g, địa cốt bì 12g, xuyên khung 6g, đan bì 8g. Có thể gia một số vị phù hợp với triệu chứng. Ngày một thang sắc uống 3 lần trong ngày sau khi ăn.

Nếu âm hư nhiều có thể dùng bài Lưỡng địa thang: sinh địa 16g, địa cốt bì 12g, huyền sâm 12g, bạch thược 6g, mạch môn 8g, a giao 12g.

Ngày 1 thang, sắc uống 3 lần trong ngày, liều lượng có thể gia giảm tùy chứng và cơ địa của bệnh nhân.

Theo Đời Sống Khỏe

Công dụng chữa bệnh của cây xấu hổ

Dân gian thường dùng để trị các bệnh: Suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm ruột non, sỏi niệu, phong thấp tê bại, huyết áp cao…

Công dụng chữa bệnh của cây xấu hổ

Công dụng chữa bệnh của cây xấu hổ

Cây xấu hổ có tên khoa học là Mimosa pudica L, thuộc họ Trinh nữ Mimosaceae; là dạng cây bò sát đất, thân cây có gai sắc nhọn, lá cây giống lá rau rút, hoa màu tím; cây mọc hoang khắp nơi.

Cây xấu hổ

Theo y học cổ truyền, cây xấu hổ là một vị thuốc quý. Toàn cây gồm lá, thân và cả rễ đều được dùng làm thuốc. Khi thu hái, người ta nhổ cả rễ cây đem về rửa sạch, sau đó cắt ngắn, phơi khô làm thuốc (thân và rễ cây phơi riêng). Dân gian thường dùng để trị các bệnh: Suy nhược thần kinh, mất ngủ, viêm phế quản, viêm kết mạc cấp, viêm gan, viêm ruột non, sỏi niệu, phong thấp tê bại, huyết áp cao…

Điều trị bệnh mất ngủ: Lá và dây xấu hổ phơi khô 15-20g, cây lạc tiên 20g, sắc nước uống hàng ngày. Duy trì uống liên tục trong 1 tuần.

Hỗ trợ điều trị bệnh động kinh: Cây xấu hổ toàn cây (lá, thân và rễ phơi khô) 20g, cây câu đằng 10g, sắc nước uống trong ngày, nhất là lúc chuẩn bị đến cơn co giật (lưu ý, cây câu đằng không nên sắc kỹ).

Điều trị bệnh đau nhức xương, thoát vị đĩa đệm: Lấy 200g rễ xấu hổ phơi khô, thái mỏng, tẩm với rượu gạo trong 1 tiếng. Sau đó, đem sao thơm. Chia làm 5 phần, mỗi ngày sắc 1 phần. Dùng liên tục trong khoảng 1 tuần là có hiệu quả.

Theo Đời Sống Khỏe

Một số công dụng của ngãi cứu

Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày.

Một số công dụng của ngãi cứu

Một số công dụng của ngãi cứu

Ngải cứu có thể chế thành những món ăn, bài thuốc chữa bệnh vô cùng hiệu quả.
Theo y học cổ truyền, ngải cứu có vị đắng, mùi thơm, tính ấm, được sử dụng để chữa trị trong các trường hợp: phụ nữ kinh nguyệt không đều, ghẻ lở, viêm da, dị ứng, viêm gan, trừ giun, điều hòa khí huyết, ôn kinh, an thai, đau bụng do lạnh, nôn mửa, kiết lỵ…

Rối loạn kinh nguyệt

Một tuần trước ngày kinh dự kiến, mỗi ngày lấy 6-12g (tối đa 20g) sắc với nước hoặc hãm với nước sôi như trà, chia làm 3 lần uống trong ngày. Có thể uống dưới dạng bột (5-10g) hay dạng cao đặc (1-4g). Nếu kinh nguyệt không đều thì hàng tháng đến ngày bắt đầu kỳ kinh và cả những ngày đang có kinh, lấy ngải cứu khô 10g, thêm 200 ml nước, sắc còn 100 ml, thêm chút đường để uống, chia 2 lần/ngày. Có thể uống liều gấp đôi, cũng 2 lần/ngày. Sau 1-2 ngày sẽ thấy hiệu quả, người đỡ mệt, máu kinh đỏ và ít hơn.

Cảm cúm, ho, đau cổ họng, đau đầu, đau dây thần kinh

Lấy 300gr ngải cứu, 100gr lá khuynh diệp, 100gr lá bưởi (hoặc quýt, chanh). Nấu trong 2 lít nước. Sôi 20 phút nhấc xuống, xông 15 phút. Cách thứ 2: Nấu lá thuốc cứu với 100gr lá tía tô, 100gr tần dầy lá, 50gr lá sả trong 1 lít nước còn 0,5 lít. Uống mỗi lúc khát, liên tục trong 3-5 ngày.

Trị mụn, mẩn ngứa

Lá ngải cứu tươi giã nát, đắp lên mặt, để khoảng 20 phút, rồi rửa lại mặt, làm liên tục như vậy sẽ có làn da trắng sáng hồng. Với trẻ em thường hay bị rôm sảy thì lấy lá ngải cứu xay nát rồi lọc lấy nước cho trẻ tắm.

Cầm máu

Những trường hợp ho ra máu, nôn ra máu, trĩ ra máu và đặc biệt là các trường hợp có thai ra máu thì thường dùng ngải cứu để chữa trị. Lấy lá ngải cứu tươi giã nát, thêm 1/3 muỗng cà phê muối đắp lên vết thương, cầm máu nhanh, giảm đau nhức.

Trị động thai hoặc giảm đau thấp khớp

Lá ngải cứu tươi 50 g, gạo tẻ 100 g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa, ăn liên tục 3-5 ngày.

Món ăn trị bệnh từ ngải cứu

– Canh ngải cứu nấu thịt nạc: Bài thuốc chữa các bệnh của phụ nữ (kinh nguyệt không đều, khí hư, đau bụng do lạnh…). Thịt nạc heo băm nhỏ, ướp hạt nêm, xào qua, nêm nước, đun sôi cho rau ngải cứu. Canh sôi đều, nêm hạt nêm vừa miệng, ăn nóng.\

– Trứng gà tráng ngải cứu: Giúp lưu thông máu lên não trị bệnh đau đầu. Lấy một nắm lá ngải cứu, xắt nhỏ, đánh tan đều với 1 quả trứng gà, nêm hạt nêm vừa miệng, đổ vào chảo chiên chín.

– Gà tần ngải cứu: Bồi bổ sức khỏe, hoạt huyết, xương cốt dẻo dai: 1 con gà đen khoảng 500gr, 3 trái táo đỏ, ý dĩ, kỷ từ, 3 lát sâm ta, ngải cứu, hạt sen, tam thất, hạt nêm. Gà làm sạch, mổ moi, nhồi tất cả các nguyên liệu vào trong gà, cho gà vào nồi, đổ săm sắp nước, nêm hạt nêm vừa miệng, tần cho đến khi gà mềm nhừ.

– Cháo ngải cứu: Chữa động thai hoặc giảm đau thấp khớp. Cách nấu: Lá ngải cứu tươi 50g, gạo tẻ 100g, đường đỏ vừa đủ (có thể cho thêm lá lốt). Thái nhỏ lá ngải cứu, nấu lấy nước để nấu cháo. Khi ăn cho đường vừa phải, ăn nóng. Chia 2 lần ăn sáng, trưa. Ăn liên tục 3 – 5 ngày.

Theo Đời Sống Khỏe

Thảo dược giúp làm mát và giải độc gan

Theo đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Khai cho thấy, hoạt chất trong cây có tác dụng ức chế quá trình sao chép, làm âm tính virus viêm gan B, chống viêm gan.

Thảo dược giúp làm mát và giải độc gan

Thảo dược giúp làm mát và giải độc gan

Cà gai leo, mật nhân, diệp hạ châu có tác dụng hỗ trợ thải độc tố từ gan, thận từ xa xưa.
Cà gai leo

Cà gai leo có tên khoa học là Solanum Hainanense hoặc Solanum Procumbens. Đông y cho rằng, cà gai leo vị hơi the, tính ấm, hơi có độc. Chúng có tác dụng tán phong thấp, đau lưng, nhức xương; tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho; giảm đau, cầm máu, trị rắn cắn; hỗ trợ điều trị viêm gan, xơ gan, gan nhiễm mỡ.

Bộ phận dùng làm thuốc gồm thân và rễ. Thành phần hóa học chính là saponin steroid, các alcaloid solasodin, solasodinon. Ngoài ra còn có diosgenin và các flavonoid.

Theo đề tài cấp quốc gia “Nghiên cứu cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan” của Tiến sĩ Nguyễn Thị Minh Khai cho thấy, hoạt chất trong cây có tác dụng ức chế quá trình sao chép, làm âm tính virus viêm gan B, chống viêm gan. Đặc biệt là dịch chiết toàn phần chứa nhiều glycoalcaloid có tác dụng chống oxy hóa, ức chế mạnh sự phát triển của xơ gan.

Hoạt chất glycoalkaloid trong cà gai leo phát huy tác dụng hỗ trợ điều trị viêm gan B tốt nhất khi kết hợp với cây mật nhân. Chúng làm âm tính HBsAg và giảm nồng độ virus trong máu bằng cách kích thích miễn dịch nội sinh của cơ thể (sản sinh các cytokin loại bỏ virus).

Mật nhân
Cây mật nhân (còn gọi là bá bệnh, mật nhơn, mật gấu) có tên khoa học Eurycoma Longifolia. Thành phần hóa học gồm quasinoide, triterpenoid, alcaloid, eurycomalacton (chất đắng ). Vỏ rễ từ lâu được dùng để bào chế các loại biệt dược tăng cường sinh lực cho nam giới, chữa đau lưng, thấp khớp…

Theo Đông y, mật nhân có vị đắng, tính mát, quy kinh can và thận. Chúng bổ dưỡng cho người khí huyết hư, gân xương đau nhức, tê chân tay, rối loạn tiêu hóa (tiêu chảy hay kiết lỵ), phòng ngừa cảm mạo. Ngoài ra, còn chữa được chứng thống kinh (phụ nữ đau bụng lúc hành kinh), ách nghịch ở ngực (đau tức ngực do khí ứ không thông).

Bộ phận thường dùng để chữa bệnh gồm rễ, vỏ thân. Lá thường dùng nấu nước tắm trị ghẻ, chốc. Rễ chặt nhỏ, phơi khô, sao vàng hạ thổ rồi đem ngâm rượu để mát gan, tiêu độc… Đặc biệt, mật nhân kết hợp với cà gai leo có tác dụng bảo vệ và chống xơ gan.

Diệp hạ châu
Cây còn tên gọi khác như chó đẻ răng cưa, kiềm đắng, rút đất trân châu thảo, lão nha châu, diệp hòe thái. Tên khoa học là Phyllanthus urinaria L, cây thân cỏ sống nhiều năm gốc sẽ hóa gỗ. Toàn cây đều chứa thành phần hóa học phyllathin, hypophyllathin dùng để chữa bệnh.

Diệp hạ châu đắng đã sử dụng hơn 2.000 năm nay. Thuốc vị đắng hơi ngọt, tính mát, quy kinh vào can, đởm, nên có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng tiết mật. Công dụng chính là thanh can lương huyết (mát gan, mát máu), giải độc. Trong dân gian, diệp hạ châu đắng được sử dụng để điều trị viêm gan vàng da, rối loạn tiêu hóa.

Chất đắng (phyllathin, hypophyllanthin) có nhiều tác dụng chữa bệnh, đặc biệt là khả năng giải độc, khôi phục chức năng gan, tốt cho trường hợp suy giảm chức năng gan do sử dụng nhiều bia rượu. Các chất này làm gia tăng lượng glutathione – chất bảo vệ gan thường thiếu trầm trọng ở người lạm dụng đồ uống có cồn. Năm 1995, các nhà khoa học Brazil cũng phát hiện tác dụng giảm đau của loài cây này, nhờ chứa acid gallic.

Việt Nam có số ca nhiễm viêm gan siêu vi B và C ở mức cao trên thế giới. Ước tính có 7,8 triệu trường hợp viêm gan B mạn tính, gần một triệu người có virus viêm gan C. Tỷ lệ viêm gan siêu vi trong dân số khoảng 10-20% và ung thư gan đứng hàng thứ 3 trong các bệnh ung thư thường gặp. Sử dụng cà gai leo, mật nhân, diệp hạ châu hoặc sản phẩm nguồn gốc thảo dược là một trong những cách thải độc gan an toàn nên tham khảo.

Theo Đời Sống Khỏe

Một số bài thuốc trị đau lưng hiệu quả

Đau lưng cấp do thấp nhiệt: Người bệnh đau vùng hông và lưng, cảm giác nóng, tiểu ít nước tiểu đỏ, vàng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch nhu sác.

Một số bài thuốc trị đau lưng hiệu quả

Một số bài thuốc trị đau lưng hiệu quả

Đau lưng y học cổ truyền gọi là yêu thống, thuộc phạm vi chứng tý. Xin giới thiệu một số phương thuốc chữa trị theo từng thể.
Đau lưng y học cổ truyền gọi là yêu thống, thuộc phạm vi chứng tý. Thường chia làm 2 loại chính: cấp và mạn. Đau lưng cấp thường do bị lạnh gây co cứng các cơ ở sống lưng; dây chằng cột sống bị viêm, phù nề chèn ép vào thần kinh; khi vác nặng sai tư thế sang chấn vùng sống lưng.

Đau lưng mạn thường do viêm xương cột sống, thoái hóa cột sống, lao, ung thư, đau các nội tạng ở ngực, bụng, lan tỏa ra sau lưng, đau lưng cơ năng do suy nhược thần kinh. Xin giới thiệu một số phương thuốc chữa trị theo từng thể.

Cháo hạt dẻ gạo nếp chữa thận hư suy gây đau lưng.

Đau lưng cấp do hàn thấp: Người bệnh thấy lưng đau nhẹ rồi nặng dần, co cứng các cơ, kinh lạc, gây bế tắc vận hành kinh khí, thay đổi tư thế vẫn không giảm, thời tiết thay đổi làm đau hơn, không cúi được, ho, trở mình càng đau, rêu lưỡi trắng nhớt, mạch trầm huyền. Phép chữa: khu phong tán hàn trừ thấp. Dùng một trong các bài:

Bài 1: quế chi 8g, rễ lá lốt 8g, thiên niên kiện 8g, ý dĩ 16g, tỳ giải 16g, kê huyết đằng 16g, trần bì 6g, cỏ xước 12g, rễ cành cây xấu hổ 16g. Sắc uống.

Quế chi

Bài 2: đảng sâm 8g, phục linh 8g, bạch thược 8g, cam thảo 2g, sinh địa 12g, xuyên khung 4g, đương quy 8g, đỗ trọng 8g, độc hoạt 4g, ngưu tất 4g, phòng phong 4g, quế tâm 2g, tang ký sinh 4g, tần giao 4g, tế tân 2g. Sắc uống.

Đau lưng cấp do thấp nhiệt: Người bệnh đau vùng hông và lưng, cảm giác nóng, tiểu ít nước tiểu đỏ, vàng, rêu lưỡi vàng nhớt, mạch nhu sác.

Phép chữa là thanh nhiệt hóa thấp. Dùng bài: hoàng bá 40g, khương hoạt 40g. Tất cả tán bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 15g, uống với nước gừng.

Đau lưng do thận dương suy: Người bệnh đau âm ỉ, liên miên, khi vận động thì đau tăng dần, bụng dưới co cứng, mặt nhợt nhạt, gối mỏi, chân tay lạnh không có sức, mạch trầm tế.

Phép chữa là bổ thận trợ dương. Dùng bài: nhân sâm 8g, hoài sơn 16g, thục địa 32g, đỗ trọng 12g, kỷ tử 8g, nhục quế 4g, phụ tử chế 2g, thù du 8g, cam thảo 4g.

Các vị sao giòn tán bột, hòa mật ong làm viên (vị thục địa để riêng chưng thành cao rồi cho vào cùng mật ong tán bột làm viên). Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20g.

Hồng hoa

Đau lưng do thận âm hư: Người bệnh bứt rứt khó ngủ, miệng khô, sắc mặt đỏ, lòng bàn tay bàn chân nóng, chất lưỡi đỏ, mạch tế sác.

Dùng bài: thục địa 32g, phục linh 12g, hoài sơn 12g, kỷ tử 8g, ngô thù 8g, cam thảo 4g. Các vị sao giòn tán mịn, trộn mật ong làm viên. Ngày uống 3 lần mỗi lần 20g.

Đau lưng do lao động nặng nhọc, quá sức: Vùng đau cố định, đau như dùi đâm, ấn vào càng đau hơn, chất lưỡi tối có điểm xuất huyết, mạch tế sác.

Dùng bài: đương quy 12g, đào nhân 12g, địa long 6g, hồng hoa 12g, hương phụ 12g, khương hoạt 12g, ngũ linh chi 12g, ngưu tất 12g, tần giao 12g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày 1 thang. Kết hợp dùng muối rang nóng chườm chỗ lưng đau. Hoặc dùng lá ngải cứu tẩm rượu sao đắp ấm tại chỗ.

Trong thời gian uống thuốc nên kết hợp ăn cháo và canh thuốc sau để tăng hiệu quả điều trị:

Cháo hạt dẻ gạo nếp: hạt dẻ nghiền thành bột 30g, gạo nếp 50g. Gạo vo sạch cùng bột hạt dẻ cho vào nồi, đổ nước vừa đủ nấu cháo, khi thấy cháo có váng là được. Ngày ăn 2 lần lúc nóng. Công hiệu: mát thận chữa thận hư suy gây đau lưng.

Canh cật lợn cẩu tích

Canh xương dê, hạch đào: xương dê 300g, hạch đào nhân (quả óc chó) 50g. Xương dê rửa sạch cho vào nồi, đổ nước vừa đủ hầm trong 2 giờ rồi cho hạch đào nhân vào, đun tiếp tới chín nhừ là được.

Ăn thịt, hạch đào và uống canh. Công hiệu: mạnh gân cốt, trị lưng gối đau mỏi, chân mềm yếu.

Canh cật lợn nấu tục đoạn, cẩu tích: cật lợn 2 quả, cẩu tích 20g, tục đoạn 10g. Cẩu tích rửa sạch cắt từng đoạn thái lát, cật lợn bổ đôi, bỏ màng hôi rửa sạch.

Cho 3 thứ vào nồi, nước vừa đủ, hầm 30 phút là được. Ngày 1 lần, ăn cật uống canh. Công hiệu: bổ gan thận, hết đau lưng mạnh chân gối.

Theo Đời Sống Khỏe

Một số bài thuốc chữa bệnh đông y hiệu quả

Theo y dược học hiện đại, gừng chứa tinh dầu 2% – 3%, chất nhựa 5%, chất béo 3% tinh bột và các chất cay như zingeron, shogaola. Đông y xác nhận tinh dầu chiết xuất từ gừng còn có tác dụng chữa chứng mất ngủ kinh niên.

Một số bài thuốc chữa bệnh đông y hiệu quả

Một số bài thuốc chữa bệnh đông y hiệu quả

Bằng những nguyên liệu quen thuộc, rẻ tiền bạn sẽ có bài thuốc chữa mất ngủ đơn giản mà hiệu quả không ngờ.
Dưới đây là những bài thuốc đơn giản từ những nguyên liệu quen thuộc giúp bạn có một giấc ngủ ngon lành.

Củ gừng

Theo y dược học hiện đại, gừng chứa tinh dầu 2% – 3%, chất nhựa 5%, chất béo 3% tinh bột và các chất cay như zingeron, shogaola. Đông y xác nhận tinh dầu chiết xuất từ gừng còn có tác dụng chữa chứng mất ngủ kinh niên.

Bài thuốc đơn giản

1. Nấu nước gừng ngâm chân mỗi tối giúp các kinh mạch thư giãn, cơn buồn ngủ sẽ đến nhanh hơn. Tuy nhiên món này chỉ dùng cho người mất ngủ dạng nhẹ.

2. Nửa củ gừng, 500ml đường tán, nấu với 500ml nước. Uống chỉ 2 bữa trưa chiều kết hợp tối ngâm chân. Bài thuốc này chữa mất ngủ kinh niên cực tốt.

3. Kết hợp uống như bài thuốc 2 và ngâm chân trong nước ấm và 1/2 chén giấm trong vòng 30 phút. Giác ngủ sẽ cải thiện rõ rệt.

Hạt sen

Sen là cây thuốc quý đã được biết đến từ lâu, tất cả các bộ phận của cây đều được dùng làm thuốc. Trong đó, hạt sen cũng được nghiên cứu và có nhiều tác dụng khác nhau.

Những năm gần đây, các nhà thực vật học đã chứng minh bằng thực nghiệm rằng trong hạt sen có chất kiềm, glucôxit thơm có tác dụng an thần. Sau khi ăn hạt sen, tuyến tụy tiết ra chất insulin làm người ta dễ ngủ hơn.

Bài thuốc đơn giản

An thần, gây ngủ: Tâm sen 5g, lá vông 20g, táo nhân 10g, hoa nhài tươi 10g. Tâm sen được sao thơm; táo nhân sao đen, đập dập; lá vông sấy khô, tán bột.

Đem tất cả các loại trộn đều, hãm với 1 lít nước, sau đó cho hoa nhài vào khi nước thuốc còn ấm, rồi lấy nước đó uống làm nhiều lần trong ngày.

Chữa khó ngủ, tâm phiền, hồi hộp, lo âu: Tâm sen 8g, hạt muồng 20g sao khô, mạch môn 15g, dùng ba thứ này hãm lấy nước uống thay trà trong ngày. Cần kiêng uống cà phê, nước chè đặc.

Một số thói quen tốt giúp bạn ngủ ngon hơn

Ngâm chân nước nóng

Trong cơ thể của chúng ta, bàn chân là bộ phận cách tim xa nhất, lượng ôxy và máu được cung cấp ít nhất, ngâm chân nước nóng trước khi ngủ sẽ thúc đẩy quá trình tuần hoàn máu và tăng cường trao đổi chất.

Uống sữa mật ong

Chất Tryptophan trong sữa giúp bạn dễ đi vào giấc ngủ, mật ong có ích cho việc giữ cân bằng đường trong máu, tránh bị tỉnh giấc sớm, vì thế uống một cốc sữa pha chút mật ong một tiếng trước khi ngủ có thể giúp bạn có một giấc ngủ ngon lành.

Ngoài ra, cũng có thể ăn một quả chuối tiêu, vì trong chuối tiêu cũng có hàm lượng chất Tryptophan.

Rửa mặt bằng nước ấm

Bức xạ có ở khắp nơi trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Vì vậy, rửa mặt trước khi ngủ rất quan trọng.

Rửa mặt bằng nước ấm trước khi ngủ sẽ rửa sạch những hạt bức xạ và bụi lưu lại trên da mặt, một làn da sạch sẽ giúp bạn có một giấc ngủ ngon.

Theo Đời Sống Khỏe

Tìm hiểu thần dược ngừa ung thư hiệu quả

Việc sử dụng chất chiết xuất từ đu đủ kháng ung thư có ưu điểm là không mang độc tính có hại cho các tế bào cơ thể và hệ tuần hoàn máu, không gây ra tác dụng phụ.

Tìm hiểu thần dược ngừa ung thư hiệu quả

Tìm hiểu thần dược ngừa ung thư hiệu quả

Thân dược ngừa ung thư hiệu quả nhất mà ai cũng đang ném bỏ, thờ ơ – cần biết để tận dụng ngay nếu không sẽ hối tiếc.

Đu đủ đực

Chất isothiocyanates trong hoa có khả năng bảo vệ cơ thể chống lại bệnh ung thư vú, ung thư phổi, ung thư dạ dày, ung thư ruột kết và ung thư tiền liệt tuyến.

Việc sử dụng chất chiết xuất từ đu đủ kháng ung thư có ưu điểm là không mang độc tính có hại cho các tế bào cơ thể và hệ tuần hoàn máu, không gây ra tác dụng phụ. Nó có thể tiêu diệt tế bào ung thư, nhưng không ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh trung ương, đến các tế bào khỏe mạnh.

Vì vậy sẽ tránh được các trường hợp làm tổn thương đến cơ thể người bệnh như khi dùng các biện pháp uống thuốc Tây y thông thường, tiêm truyền hóa xạ trị,…

Cách dùng: Hoa đu đủ đực phơi khô, sao vàng hạ thổ, dùng trong 1 tháng với liều lượng 100gr hoa đủ đực, 2 lít nước sắc còn 3 chén, uống làm 3 lần trong ngày trước hoặc sau khi ăn.

Chữa ho gà

Hoa đu đủ đực 20g, sao vàng; vỏ quýt lâu năm 20g; vỏ rễ dâu 20g, tẩm mật sao; bách bộ 12g; phèn phi 12g. Tất cả tán nhỏ, rây bột mịn, ngày uống 3 lần: trẻ em 1-5 tuổi, mỗi lần 1-4g; 6-10 tuổi, mỗi lần 5 – 8g.

Chữa ho kèm theo mất tiếng

Hoa đu đủ đực 15g, lá hẹ 15g, hạt chanh 10g. Tất cả để tươi, nghiền nát rồi hòa với 20 ml nước, thêm ít mật ong hoặc đường cát trộn đều, uống làm 3 lần trong ngày. Dùng trong 3 – 5 ngày.

Rau dền

Protein: Rau dền cung cấp nguồn protein rất phong phú và dễ tiêu hóa.

Lysine: Rau và các loại hạt thường thiếu loại axit amin quan trọng này. Nhưng rau dền rất giàu lysine giúp cơ thể dễ hấp thụ canxi, chắc khỏe cơ bắp và sản sinh năng lượng.

Chất xơ: Rau dền là loại thực phẩm giàu chất xơ, giúp ích cho sức khoẻ tiêu hóa.

Khoáng chất: Loại rau này rất giàu chất khoáng gồm canxi, magiê, và đồng. Đây cũng là nguồn cung dồi dào kẽm, kali và phốt pho. Những chất này sẽ tạo xương và cơ bắp khỏe mạnh, tăng cường năng lượng, và rất quan trọng với cơ thể.

Vitamin: Rau dền cũng là nguồn cung cấp rất tốt các viamin quan trọng gồm A, C, E, K, B5, B6, folate, niacin, và riboflavin.
Rau dền ngừa ung thư: Các hợp chất peptide chống viêm trong rau dền cũng giúp ngăn ngừa ung thư. Các chất chống oxy hoá trong hạt rau thậm chí có thể bảo vệ tế bào khỏi những tổn thương dẫn đến ung thư.

Theo Đời Sống Khỏe

Tìm hiểu 3 bài thuốc trị viêm xoang hiệu quả

Cây cỏ cứt lợn còn có nhiều tên gọi khác là cỏ hôi, cỏ cứt heo, cây bù xích, cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, thắng hồng kế, tên khoa học Ageratum conzoides L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Tìm hiểu 3 bài thuốc trị viêm xoang hiệu quả

Tìm hiểu 3 bài thuốc trị viêm xoang hiệu quả

Nếu đang khổ sở vì bị bệnh viêm xoang hành hạ, bạn có thể áp dụng 1 trong 3 bài thuốc dân gian sau đây hy vọng sẽ trị tận gốc chứng bệnh này để hạn chế không dùng thuốc.
Rất nhiều bài thuôc dân gian điều trị viêm xoang mũi mãn tính và dị ứng có kết quả, không gây tác dụng phụ đã được nhiều người áp dụng và cho hiệu quả tốt.

Bạn có thể tham khảo 1 trong 3 bài thuốc đơn giản sau đây để lựa chọn cách chữa bệnh tốt nhất cho mình.

Chữa viêm xoang bằng cây cứt lợn

Cây cỏ cứt lợn còn có nhiều tên gọi khác là cỏ hôi, cỏ cứt heo, cây bù xích, cây hoa ngũ sắc, cây hoa ngũ vị, thắng hồng kế, tên khoa học Ageratum conzoides L., thuộc họ Cúc (Asteraceae).

Theo Đông y, cỏ cứt lợn có vị hơi đắng, tính mát, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu sưng, cầm máu. Thường dùng làm thuốc chống viêm, chống phù nề, chống dị ứng trong các trường hợp sổ mũi, viêm xoang mũi dị ứng cấp và mãn.

Ngoài ra, còn chữa chảy máu ngoài da do chấn thương, sưng, đau, mụn nhọt, ngứa lở, eczema bằng cách dùng cây tươi rửa thật sạch với nước muối, giã nát, đắp lên chỗ đau, hoặc nấu nước tắm rửa.

Để chữa viêm xoang mũi dị ứng, viêm tai, người ta lấy lá tươi rửa thật sạch với nước muối loãng, xả lại với nước sạch, giã nát, vắt lấy nước cốt, tẩm vào bông bôi vào bên trong mũi đau hoặc ngoáy vào tai đau. Có thể dùng cành lá khô 15 – 30g sắc với 500ml nước, còn lại 200ml, vừa xông mũi, vừa chia 2 lần uống trước bữa ăn.

Thực tế, nhiều cơ sở y tế đã sử dụng các chế phẩm của cỏ cứt lợn để điều trị viêm xoang mũi mãn tính và dị ứng có kết quả, không gây tác dụng phụ gì đối với cơ thể người bệnh.

Chữa viêm xoang bằng hạt gấc

Rất ít người biết rằng bệnh viêm xoang có thể chữa hiệu quả chỉ nhờ vào những hạt gấc

Cách làm cũng rất đơn giản: Lấy chừng 20 – 25 hạt gấc đem nướng sém đen phần vỏ, phần hạt gấc chín mềm. Sau đó đem giã nhỏ bằng cối, lấy cả phần vỏ đã cháy sém ngâm với rượu ngon, sau một ngày là có thể đem ra dùng để trị bệnh viêm xoang.

Dùng tăm bông chấm vào dung dịch hạt gấc ngâm rượu, bôi lên sống mũi. Chờ 2 phút cho thuốc ngấm thì xì hết mủ đặc trong xoang mũi. Thuốc có tác dụng rất nhanh, chỉ cần 2 phút là có thể cảm nhận thấy cơn đau xoang mũi thuyên giảm.

Tuy nhiên, theo các chuyên gia hạt gấc có chứa độc tính và có thể gây nguy hiểm nếu dùng không đúng cách. Vì thế chỉ dùng không quá 2 – 4g/ngày. Lưu ý, cần nướng chín hạt gấc trước khi dùng.

Chữa viêm xoang bằng bồ kết

Qua quá trình nghiên cứu, người ta phát hiện thấy dịch tiết ra từ gai bồ kết có chứa nhiều hoạt chất có lợi cho cơ thể, đặc biệt là chất saponin với tác dụng tiêu đờm cực mạnh. Vì thế nên khi dùng bồ gai bồ kết để chữa viêm xoang sẽ giúp diệt khuẩn, tiêu mủ, giảm phù nề ở niêm mạc giúp xoang được thông thoáng.

Đối với quả bồ kết: Bồ kết khô 1 quả đem đốt cháy tạo khói, dùng khói này xông vào 2 lỗ mũi. Ngày làm 3-4 lần, mỗi lần từ 3-5 phút.

Hoặc có thể lấy vài quả bồ kết khô đem đun sôi cùng một nồi nước, dùng khăn trùm kín người rồi lấy nước này để xông toàn thân sẽ giúp cơ thể cảm thấy thư thái, xoang mũi cũng không còn nghẹt.

Đối với gai bồ kết: Gai bồ kết đem nướng rồi tán mịn. Hít hoặc thổi bột này vào mũi . Ngày làm 3-4 lần.

Hoặc có thể dùng 10g gai bồ kết, 10g thạch xương bồ, 5g rễ hoa kinh giới đem tất cả tán thành bột, sau đó gói vào 1 miếng vải sạch mỏng và nét vào 1 bên mũi bị nghẹt, nằm ngửa ra một lúc, mũi của bạn sẽ cảm thấy thông thoáng hơn.

Theo Đời Sống Khỏe